

|
GEORGE WASHINGTON: VỊ VĨ NHÂN ANH HÙNG HIỆP CHỦNG QUỐC HOA KỲ George Phạm Phong Dinh Là một đất nước non trẻ chỉ mới có 235 năm lịch sử, nhưng với những nỗ lực phi thường, với ý chí sắt thép Hoa Kỳ đã vươn lên thành cường quốc hạng nhất về mặt quân sự và kinh tế. Để đạt được những thành quả kỳ diệu đó, nhiều thế hệ di dân từ mọi miền thế giới cấu thành dân tộc Hoa Kỳ, đã vất vả dấn bước trên con đường lịch sử gập ghềnh chông gai, đuợc viết bằng mồ hôi và máu đào. Dường như lịch sử dựng nước của mỗi quốc gia đều được khởi đi và dẫn dắt bởi những huyền thoại hay bởi những vĩ nhân mà cuộc sống và đời chiến đấu của các vị ấy đã trở thành huyền thoại. Để dựng lên một Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ độc lập, thật kỳ diệu, George Washington và các anh hùng hào kiệt Mỹ với kiến thức quân sự tối thiểu, với kinh nghiệm chiến trận khiêm tốn mà đã dìu dắt dân tộc đánh thắng một đế quốc Anh và một binh lực cực kỳ hùng mạnh. Các cụ tổ dòng họ Washington vốn là người Anh chính gốc sinh sống tại Anh quốc, đến đời cụ cố John Washington (1632 - 1677) dời về vùng Northamptonshire và lập nên trang trại Sulgrave, lúc đó trong thời vua Charles I. Năm 1657 chàng thanh niên John thu thập vốn liếng và quyết định xuống tàu sang Tân Thế Giới lập nghiệp và định cư trong vùng Virginia. Ở vùng đất mới John yêu và lập gia đình với một cô gái địa phương. Bà Washington sinh duy nhất có mỗi ông Lawrence Washington (1659 - 1698). Ông John sau mấy mươi năm chăm chỉ khai khẩn và làm ăn buôn bán đã mua đuợc vùng đất Mount Vernon trong quận Wesmoreland rộng đến 2.000 mẫu Anh (acre, một acre bằng 0,4 hecta, tức 400 m2), mà sau này sẽ là nơi chôn nhau cắt rún của George Washington. Ông cụ John còn là nghị viên của Nghị Viện địa phương Burgesses. Ông Lawrence có một người con là Augustine Washington (1694 - 1743). Cũng giống như ông nội, ông Augustine là người rất năng nổ và chí thú làm ăn, đã khuếch trương tài sản và đất đai giòng họ Washington nhiều thêm lên. Ông lập gia đình với bà Jane Butler và sinh được bốn người con. Nhưng bà Jane lại mất sớm, ông Augustine tái giá với bà Mary Ball và sinh được sáu người con, trong đó ông George Washington chào đời ngày 22.2. 1732 tại trang trại Bridges Creek. Lúc trưởng thành, George Washington trở thành một chàng trai khôi ngô tuấn tú, đôi mắt màu xanh xám sáng quắc kiên nghị , khuôn mặt tràn ngập nét chính khí qua vầng trán rộng thông minh, thân thể cường tráng với nuớc da rám nắng khỏe mạnh của người miền trang trại. Đặc biệt đôi bàn chân của chàng thanh niên cao đến 1m80 ấy khá lớn, đến đỗi chàng phải mang cỡ giày số 13 mới vừa cho. Mặc dù chàng thừa kế từ ông Augustine 280 mẫu đất và có 10 nô lệ da đen, nhưng là một người con hiếu thảo chàng để cho mẹ là bà Mary Ball cai quản số của cải đó cho đến khi bà qua đời. Sau này dù đã trở nên là Đại Tướng và hai lần Tổng Thống Hoa Kỳ, ông vẫn qùi xuống bên gối mẹ mỗi lần đến thăm viếng bà. Chàng thanh niên có ý chí tự lập rất lớn, có lẽ là nhờ chàng thừa hưởng yếu tố qúi gía ấy từ đời các cụ tằng tổ dòng giòng họ Washington. Chàng cật lực làm việc cho nên chẳng mấy chốc ở độ tuổi 21 chàng đã gầy dựng riêng cho chàng một tài sản gồm 1.558 mẫu đất. Danh tiếng và uy tín của chàng nhanh chóng nổi lên và nhận đuợc sự kính trọng trong giới trang chủ vùng Virginia. Hơn thế nữa chàng thanh niên còn được bầu vào Nghị Viện Burgesses, từ đó chàng có dịp va chạm và suy nghĩ về những vấn đề quan trọng giữa thuộc địa và mẫu quốc Anh. Trong thời gian này người Anh và người Pháp bắt đầu có những vụ va chạm quyền lợi trên vùng Bắc Mỹ, bao gồm lãnh thổ Hoa Kỳ và Gia Nã Đại (Canada). Mở đầu cuộc chiến tranh Anh - Pháp kéo dài bảy năm mà phần chiến thắng cuối cùng thuộc về người Anh, người Pháp mất luôn cả đất Canada, Tướng Legardeur cho quân phá hủy Đồn Pittburgh của người Anh và thay thế bằng Đồn Duquesne. Thống Đốc Dinwiddie bổ nhiệm George Washington làm Thiếu Tá chỉ huy một đội dân quân địa phương (militia) 150 chiến binh tiến về Fort Duquesne. Lần đầu tiên nhận chỉ huy một đạo quân ô hợp hoàn toàn không có một khái niệm gì về chiến tranh và quân sự, lại thêm không nhận được sự hỗ trợ tài chánh hay tinh thần nào từ quốc hội Burgesses và các tiểu bang lân cận, Washington dẫn đoàn quân ốm đói và thiếu thốn quân trang quân dụng của mình đi viết chiến sử. Washington quyết định dùng lối đánh úp thần tốc vào một đồn có 32 quân địch, giết chết được viên chỉ huy và 9 quân Pháp, bắt sống 21 người. Đó là chiến công lừng lẫy thứ nhất của người anh hùng dân tộc Washington, báo trước tương lai chói lọi của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ hơn hai mươi năm sau, ông được vinh thăng Đại Tá. Trong khoảng thời gian tiến công đánh quân Pháp, Đại Tá Washington nhân dịp ghé ngang qua thăm một người bạn ở vùng Williamsburg ông gặp một người thiếu phụ kiều diễm tên Martha Dandridge Custis, là góa phụ của cố Đại Tá Daniel Custis nổi tiếng giàu có. Đôi trai tài gái sắc bị cú sét ái tình đánh trúng và phải lòng nhau. Chàng đánh bạo xin đuợc cầu hôn với người đẹp. Thật sung sướng làm sao, nàng Custis e lệ gật đầu. Đám cưới được diễn ra tưng bừng ở ngay tại tòa lâu đài của cô dâu ngày 6.1.1759. Trong suốt 40 năm chung sống, bà Martha Washington quả thật là một người vợ hiền thục trọn nghĩa phu xướng phụ tuỳ, còn đối với quốc dân Hoa Kỳ thì bà vị Đệ Nhất Phu Nhân dịu dàng, đức hạnh và đuợc kính yêu nhất, không thua gì Tổng Thống Washington. Theo truyền thống hồi đó, ông Washington cai quản luôn gia sản lớn của bà Martha, đuợc coi như là của hồi môn, với 7.300 mẫu đất trong vùng Williamsburg, vì vậy ông trở thành một trong những trang chủ trẻ tuổi giàu nhất vùng Virginia. Washington là một nhà quân sự, nhà đo đạc, nhà nông, nhà giao tế và là nhà quản trị tài giỏi. Cho nên tài sản nhập chung của hai ông bà ngày càng phình rộng hơn lên. Một đặc điểm khác nữa, là ông có lòng hy sinh và quảng đại cao độ. Sau này khi làm Tổng Tư Lệnh quân đội cách mạng Hoa Kỳ đánh nhau với quân Anh, ông đã xin Quốc Hội Liên Bang đừng trả lương cho ông. Là bởi vì lúc đó Quốc Hội non trẻ giàu ý chí tự do độc lập, nhưng rất nghèo nàn tài chánh và các phương tiện vật chất. Là một nghị viên trong Quốc Hội Virginia, Washington có dịp trao đổi và tham khảo những vấn đề kinh tế, chính trị mà người thuộc địa quan tâm với các nghị viên đồng viện. Ngày càng người thuộc địa càng muốn tách rời khỏi áp lực và ảnh hưởng của mẫu quôc Anh. Nước Anh thì lúc nào cũng cần các nguồn tài nguyên nhân, vật lực ở các thuộc địa vòng quanh thế giới để củng cố sức mạnh của mình. Tuy nhiên chính phủ Anh đã không lường được sự phản ứng quá dữ dội của người thuộc địa Mỹ châu, khi đã sai lầm đưa ra những thứ thuế mới, từ đó dẫn đến cuộc cách mạng giành độc lập của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ. Cái mầm xanh ấy nhú lên từ sau chuộc chiến tranh bảy năm giữa Anh và Pháp, được chấm dứt bằng Hiệp Ước Paris 1763, trong đó có một điều khoản cay đắng cho người Pháp, là bị mất đứt đất Canada cho Anh quốc. Người Pháp mang mối hận và cay cú dữ lắm từ dạo ấy cho đến mãi tận bây giờ. Chiến thắng đó làm cho người Anh bị thiếu hụt tài chánh trầm trọng, cho nên chính phủ bèn sáng tạo ra một số thuế mới, nhưng lần lượt các quốc hội của 13 tiểu bang thuộc địa biểu quyết không đóng thuế mới và kêu gọi tổ chức quốc hội các bang thuộc địa họp tại New York ra tuyên bố chung về quyền tự quyết các vấn đề thuế khóa. Nhiều cuộc tụ tập bạo động nổ ra khắp nơi nhắm vào người Anh. Tuy nhiên quốc hội Anh vẫn không nhượng bộ trong tình hình ngày càng ngột ngạt đó, với đạo luật Declaratory Act thay thế Stamp Act trong năm 1766, trong đó xác định đánh thuế người thuộc địa là đặc quyền của nước Anh. Tiếp theo ngay đó là Townsends Act qui định mức thuế trên các loại thủy tinh, chì, giấy, sơn và trà. Nhưng vấp phải sự phản đối dữ dội của người Mỹ, đầu năm 1770 Anh quốc đành hủy bỏ tất cả các loại thuế, ngoại trừ thuế trà. Mặc dù trà nhập cảng từ Anh rẻ hơn trà Hòa Lan và trà nhập lậu, nhưng người Mỹ vẫn tẩy chay và ném các kiện trà Anh xuống biển trong năm 1773. Quốc hội 13 tiểu bang (New Hampshire, New York, New Jersey, Virginia, North và South Carolina, Maryland, Delaware, Pensylvania, Massachussetts, Rhode Island, Connecticut và Georgia) thành lập quốc hội chung gọi là Quốc Hội Lục Địa Thứ Nhất họp từ tháng 9.1774 đến tháng 10.1774 tại thành phố Philadelphia, với 50 đại biểu quyết nghị không giao dịch trao đổi với nước Anh. Để đáp lại Anh cho đóng cửa hải cảng Boston cũng trong năm 1774, tiếp theo trong năm 1775 quốc hộI Anh biểu quyết đạo luật Không Khoan Nhượng (Intolerable Acts) đòi hỏi người Mỹ phải bồi thường số trà họ ném xuống biển năm 1773. Thùng thuốc súng chiến tranh giữa người thuộc địa và người Anh đã được châm ngòi từ cả hai phía. Cuộc động binh và chiến đấu bắt đầu. Phía Người Mỹ đưa ra lời kêu gọi Tự Do Hay Là Chết. Thể theo lời đề nghị hùng hồn của đại biểu Virginia là ông Richard Henry Lee, rằng “Các vùng thuộc địa (colonies) phải là những tiểu bang tự do và độc lập“, đã quyết định thành lập một ủy ban soạn thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập cho Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, gồm toàn những nhân vật xuất chúng, trong đó có các vị Thomas Jefferson, Benjamin Franklin, John Adams, Sherman và Livingston. Sau ba tuần lễ làm việc cật lực ủy ban đệ trình Quốc Hội dự thảo Bản Tuyên Ngôn Độc Lập. Đây là công trình tâm huyết của ủy ban, nhưng trong đó phần lớn do Thomas Jefferson soạn thảo. Quốc Hội đồng thanh chấp thuận bản dự thảo và công nhận chính thức vào ngày 4.7.1776. Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ chính thức ra đời và ngẫng cao đầu cùng năm châu thế giới. Một năm sau, vào tháng 6.1777 Quốc Hội biểu quyết mẫu cờ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ mà sử chép là do kiểu vẽ của nghị sĩ Francis Hopkinson , với 13 ngôi sao tượng trưng cho 13 tiểu bang nằm vòng tròn trên nền màu xanh nhỏ ở góc trái lá cờ, biểu hiện cho “một chùm sao mới” (New Constellation), tức là một quốc gia mới. Phần còn lại là bảy vạch đỏ nằm xen kẻ với bảy vạch trắng cũng tượng trưng cho sự liên kết của 13 tiểu bang đầu tiên. Cô Betsy Ross, chủ nhân một hiệu may ở Philadelphia có vinh dự được Quốc Hội đặt làm lá cờ này.Để chiến đấu chống lại những đạo quân Anh thiện chiến, dưới tay Washington chỉ có lúc đầu là các chiến binh tình nguyện từ vùng New England gần khu vực Boston. Người Mỹ chưa từng biết đánh giặc là gì, lại thêm tình hình tài chánh, quân nhu tiếp liệu, thực phẩm, súng đạn gần như là con số không, nên có thể nói quân cách mạng là một đạo quân vô cùng ô hợp và yếu kém mọi bề. Họ là những người nông dân, những thợ thuyền , thợ rừng, phu khuân vác, những thầy thông thầy ký,... chỉ võ trang bằng các loại vũ khí cổ lổ sĩ, có người vác cây súng dài tới...hai thước mốt từ thời ông bành tổ. Nhưng với lòng yêu nước yêu tự do và độc lập, họ từ giã xóm làng và gia đình lên đường chiến đấu. Một số các khó khăn khác của ông Washington là quân thuộc địa chỉ là những người tình nguyện ngắn hạn, quân số trồi sụt liên tục, lại thêm nạn đào ngũ. Đi chiến đấu quá khổ, quân phục không có, quần áo rách nát tả tơi, mùa đông không có giày và không có mền đắp. Có những chiến sĩ gọi là những người nhấp nháy (minutemen) làm khổ Washington không ít. Khi tập hợp nhận thực phẩm hay đồ quân dụng thì có mặt gần như một trăm phần dầu, nhưng khi có lệnh thực tập hay hành quân là họ biến mất trong một cách thần sầu. Một trong những trận đánh gần như là huyền thoại dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Washington là trận vượt sông Delaware ngày 26.12.1776 tấn công bất ngờ và cường kích cứ điểm Trentoncó 1.500 binh lính Anh đồn trú. Quân cách mạng vượt sông âm thầm giữa đêm đông lạnh giá đến nỗi có hai chiến sĩ bị chết cóng. Quân Mỹ dùng lưỡi lê xông vào doanh trại quân địch đang say ngủ vì tiệc rượu đêm Giáng Sinh. Sau 45 phút, quân Anh bỏ chạy tán loạn, 900 người bị bắt sống. Quân Hoa Kỳ chỉ hy sinh có hai người. Chiến thắng này đã nhanh chóng thổi lên những luồng hùng khí trong quân đội độc lập trên các mặt trận. Đến mùa xuân 1778 thì có tin vui bay đến. Nhà ngoại giao lỗi lạc Benjamin Franklin, một trong những vị Tổng Thống kiệt xuất của Hoa Kỳ sau Washington, đi Pháp vận động thành công sự trợ giúp quân sự của nước Pháp. Nhiều vị tướng lãnh gỉỏi của Pháp tình nguyện cầm quân sang Hoa Kỳ, trong đó có Bá Tước La Fayette mới có 20 tuổi. Một bức tượng ghi nhớ công ơn của Bá Tước La Fayette được dựng lên sau đó. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, có một chiếc hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ được vinh dự mang tên La Fayette. Trận chiến kéo dài gần tám năm, Washington quyết định đánh một trận lớn cuối cùng. Độc lập hay là chết. Sau tám năm dày dạn chiến trận, quân đội cách mạng giờ đây đã trở nên kỷ luật, thiện chiến và dũng mãnh hơn, một phần nhờ vào sự tận tụy huấn luyện của Nam Tước Friedrich von Steuben người Đức. Hạm đội Hải Quân Pháp nhận nhiệm vụ kềm chân Hải Quân Anh ngoài khơi, trong khi bộ binh Hoa Kỳ và Pháp tiến quân bao vây bộ binh Anh trong nội địa. Quân Pháp và quân Mỹ bao vây đạo quân lớn của Tướng Anh Cornwallis đang co cụm tại Yorktown chờ viện binh của Hải Quân Anh. Tháng 9.1781, tin chiến thắng của Đô Đốc Pháp de Grasse đánh bại đội chiến thuyền Anh và phong tỏa các cửa biển làm cho quân Pháp-Mỹ lên tinh thần, khi quân Anh ngày càng tuyệt vọng trong cái bẫy của Washington ngày càng siết chặt. Đầu tháng 10.1781, Washington quyết định tổng tấn công. Đoàn quân chiến đấu cho nền độc lập tràn lên như những con sóng thần. Ngày 17.10.1781 Tướng Cornwallis phái sứ giả xin đầu hàng. Ngay đêm đó Tổng tư Lệnh Washington viết báo cáo chiến thắng lời lẽ rất khiêm nhường gửi về Quốc Hội, trong đó vinh danh tất cả sĩ quan và binh sĩ các cấp đã viết nên thiên anh hùng ca lưu danh sử sách. Quân Anh lần lượt triệt thoái khắp mặt trận, một hòa ước chính thức đuợc ký kết vào ngày 9.3.1783, đánh dấu chấm hết tám năm rưỡi chiến tranh khốc liệt. Tháng 12.1783 Tướng Henry Knox dẫn quân Mỹ tiến vào New York, thủ đô của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ trong tiếng hoan hô rền trời của dân chúng. Năm năm sau Nghị Hội Liên Bang (Federal Convention) biểu quyết chấp nhận dự thảo Bản Hiến Pháp Hoa Kỳ trong tháng 9.1788, trong đó qui định thành lập ba cơ cấu điều hành quốc gia là Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp. Về phần Lập Pháp, sau nhiều tranh cãi và thảo luận Nghị Hội Liên Bang đồng ý thành lập hai viện Thượng và Hạ. Mỗi tiểu bang bất kể lớn nhỏ, chỉ đuợc cử một nghị sĩ. Hạ Nghị Viện bầu các dân biểu theo tỉ lệ dân số của mỗi tiểu bang. Đặc biệt đại biểu Washington của Virginia khi đến tham dự buổi họp lịch sử này tại Philadelphia đã được chào đón bằng một rừng người hò reo hoan hô và chuông các nhà thờ đổ liên hồi. Với uy tín lớn lao ấy và hình ảnh người anh hùng tận tụy chiến đấu cho đất nước vẫn còn chưa phai nhòa trong ký ức quốc dân, Washington được bầu làm vị Tổng Thống thứ nhất của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ từ tháng 4.1789 và đắc cử hai nhiệm kỳ liên tiếp, Phó Tổng Thống là ông John Adams. Quốc hội và quốc dân vẫn muốn tín nhiệm ông thêm nhiệm kỳ thứ ba, hoặc làm Tổng Thống suốt đời nếu ông muốn. Nhưng với bản tính khiêm cung mực thước, người xin được lui về quê và nhường cơ hội xây dựng đất nước lại cho nhiều tài năng khác. Vị Tổng Thống thứ hai đuợc bầu lên là ông John Adams. Vì có tiền lệ đặc biệt như vậy, cho nên về sau mỗi vị Tổng Thống chỉ đảm nhận hai nhiệm kỳ mà thôi. Chỉ duy nhất có trường hợp Tổng Thống Franklin Roosevelt lưu lại đến nhiệm kỳ thứ ba nhờ những công lao to lớn của ông trong Đệ Nhị Thế Chiến. Sau nhiều năm dầm sương dãi nắng chiến đấu và lăn lộn trong chính trường đầy rắc rối nhiêu khê, ở độ tuổi 65 vẫn hãy còn tráng kiện, vị Tổng Thống bình dị của dân tộc vẫn ngày ra đồng cùng làm việc với nô lệ và gia đình hay cỡi ngựa đi thăm thú đất đai. Bà Martha thì mỗi cuối tuần vẫn cùng chồng tổ chức những buổi dạ hội họp mặt thân hữu vui vẻ và thân tình, như lúc bà còn là vị đệ nhất phu nhân. Ngày 12.12.1799, một ngày mùa đông lạnh lẽo, trong lúc cỡi ngựa thi thăm một vòng trang trại Washington bị vướng phải một cơn tuyết đổ, ông bị cảm lạnh, khi về đến nhà thì ông bị nóng sốt và sưng thanh quản rất nặng, sau hai ngày bệnh biến chuyển sang sưng màng phổi. Thủ thuật y khoa hồi đó hễ cứ bệnh là trích máu, bệnh gì cũng trích máu. Phương pháp này làm bệnh nhân càng thêm kiệt lực. Khuya hôm đó Washington yêu cầu bác sĩ đừng trích máu nữa, vì ông tự biết giờ ra đi của ông chỉ còn trong giây phút mỏng manh nữa thôi. Một khoảnh khắc ngắn ngủi sau, anh linh của vị anh hùng đất nước Hoa Kỳ, vị vĩ nhân của nhân loại thăng thiên lên cõi trời đen đầy những chòm sao sáng. Tang lễ của vị anh hùng dân tộc được cử hành đơn giản, ông được mai táng trong khu mộ phần của giòng họ ở Mount Vernon. Trên vòm cổng mộ phần người ta gắn một tấm bảng khắc hàng chữ “Tướng Quân George Washington an nghỉ trong vòng rào này”. Khi bà Martha qua đời, áo quan của bà cũng được đem vào đặt nằm gần bên áo quan của ông. Washington đã qua đời, nhưng công nghiệp lớn lao của ông để lại cho nước Mỹ lưu lại trong sử sách, mà mỗi năm vào ngày 4.7, giở lại những trang sử chói lọi của Hoa Kỳ thời lập quốc, nguời dân Mỹ mọi thế hệ trân trọng cúi đầu tưởng niệm vinh danh tên George Washington, với câu danh ngôn của Tướng Henry Lee tôn sùng vị Tổng Tư Lệnh : Anh Hùng Đệ Nhất Trong Chiến Tranh - Nhà Lãnh Đạo Ưu Đẳng Trong Hòa Bình - Vĩ Nhân Trong Lòng Dân Tộc. (First In War - First In Peace - First In the Hearts Of His Countrymen). Phạm Phong Dinh |
|