bao the gioi


GỠ RỐI: 23-5-12
Anh Tư


VÀI NÉT VỀ PHONG TRÀO HƯNG CA VIỆT NAM

Hỏi:
Anh Tư thân mến,
Nghe tin anh chị em Phong Trào Hưng Ca Việt Nam lại về sinh hoạt ở vùng Dallas-FortWorth, tôi rất phấn khởi vì có dịp thắp sáng ngọn lửa đấu tranh trong lòng mình. Nhân tiện, tôi xin phép được hỏi Anh Tư về tôn chỉ hoạt động của Hưng Ca. Nghe nói cái nôi của Hưng Ca là Texas, có đúng không? Phong trào có chi nhánh ở những nơi nào? Có những ai có mặt từ đầu và bây giờ hãy còn sinh hoạt trong Hưng Ca? Chủ tịch Phong Trào là những ai? Và có những ai tiếp nối? (Người Dallas)

Đáp:
Người Dallas thân mến: Ông hỏi tôn chỉ hoạt động, AT xin trích dẫn nguyên văn tài liệu chính thức của Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, trong chương Dẫn Nhập, bản Điều Lệ (1987) như sau:

Nhận định rằng:

* Lịch sử Việt Nam từ thời ông cha ta mở nước cho đến ngày nay, từng trải qua gần 1000 năm Bắc thuộc và ngót 100 năm Pháp thuộc, là lịch sử của một dân tộc tranh đấu không ngừng cho tự do và quyền sống. Nửa thế kỷ trở lại đây, lịch sử Việt Nam đã chất chứa bao nhiêu dấu vết đắng cay của cảnh cốt nhục tương tàn, gây ra bởi một bọn người vô thần tôn sùng chủ nghĩa Mác-Lênin và bị chỉ huy bởi Cộng sản quốc tế để thực hiện ý đồ nhuộm đỏ đất quê hương. Lịch sử Việt Nam cận đại là lịch sử của cuộc đấu tranh Quốc-Cộng với biết bao máu xương chồng chất, để rồi sau cùng dẫn tới cuộc cưỡng chiếm thô bạo năm 1975, đẩy cả triệu người lìa bỏ quê hương để tìm tự do và lưu lạc nơi đất khách quê người, đồng thời dìm đắm mấy chục triệu đồng bào trong hỏa ngục đỏ. Cả một giòng lịch sử với lớp lớp thăng trầm và vinh nhục ấy, hiện nay đang bị bóp méo, xuyên tạc một cách trắng trợn bởi tập đoàn lãnh đạo Việt cộng nhằm lấp liếm chối bỏ hành động xâm lược của chúng, và nhằm đầu độc những thế hệ thiếu niên Việt Nam tương lai.
* Nhiều năm qua Cộng sản đã hoàn toàn thất bại trong mưu đồ tiêu diệt văn hóa Việt Nam. Những văn nghệ sĩ, dù đang tù đày ở quê nhà hay đang tạm dung ở xứ người, vẫn ngày đêm không ngừng trăn trở, không ngừng sáng tác và vận dụng những sáng tác phẩm của mình như một vũ khí chống trả và tiêu diệt bọn bạo quyền Cộng sản, làm sáng tỏ chính nghĩa của người Việt tự do, đồng thời góp phần tích cực cho công cuộc xây dựng một con đường trở về giải phóng quê hương.
* Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn bị phân tán trên địa bàn quốc tế thành nhiều mảnh, chịu ảnh hưởng của những môi trường sinh hoạt khác nhau, tạo nên một sự khó khăn đáng kể trong việc kếp hợp. Những xao động và mâu thuẫn trong sinh hoạt của các đoàn thể chính trị vào thời gian gần đây đã gây ra thêm một khó khăn khác cho việc vận động quần chúng tham gia vào công cuộc chung.

Nay, quyết định thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam trong ước muốn chân thành và đơn giản: nối kết những người Việt Nam đang sống nơi đất khách quê người bằng tình tự dân tộc, bằng tấm lòng hướng về quê hương, bằng quyết tâm giải phóng đất nước khỏi gông xiềng Cộng sản, và bằng sự tin tưởng vào một ngày mai quê hương Việt Nam sẽ phục hưng trong tự do và hạnh phúc.

Những sinh hoạt của Phong Trào Hưng Ca Việt Nam được thực hiện và phát triển trên căn bản tương thân tương ái, không vụ lợi, không thiên kiến và bè phái, độc lập với tất cả mọi phe nhóm, mọi tổ chức. Những thành viên của Phong Trào Hưng Ca Việt Nam tìm đến với nhau trong tình thương yêu và đoàn kết; bằng lời ca tiếng hát cũng như qua mọi hình thức diễn đạt trên mọi lãnh vực sinh hoạt văn học nghệ thuật khác, tiếp tục thắp sáng ngọn lửa bất khuất của lý tưởng quốc gia, quảng bá Chính Nghĩa cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, truyền đạt và phát huy những truyền thống cao đẹp của dân tộc, cổ xúy tinh thần đấu tranh triệt để đối với kẻ thù đang dày xéo quê hương.

Thành viên Phong Trào Hưng Ca Việt Nam hòa mình vào tập thể quần chúng, làm nhịp cầu nối liền tất cả những người Việt hải ngoại. Bất cứ môi trường nào có mặt người Việt Nam tỵ nạn đều là địa bàn hoạt động của Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, và bất cứ sinh hoạt nào nhằm phục vụ Cộng đồng Việt Nam tỵ nạn trong tinh thần và lý tưởng nêu trên đều là mục tiêu để Phong Trào Hưng Ca Việt Nam hưởng ứng, tham gia và hỗ trợ.

Ngoài ra người thành viên Phong Trào Hưng Ca Việt Nam còn đóng vai trò làm nhịp cầu nối liền người ra đi với mảnh đất quê hương, để những trái tim Việt Nam dù ở bất cứ nơi đâu, trên quê hương đau khổ hay ở những góc trời lưu lạc, lúc nào cũng đập chung một nhịp.

Ngoài hai sự kết hợp trên, người thành viên Phong Trào Hưng Ca Việt Nam còn mong ước được đóng góp vai trò của mình vào một sự kếp hợp khác nữa. Đó là kết hợp những thế hệ, những lứa tuổi chênh lệch, trong một tâm nguyện chung: hướng về Ngày Mai của đất nước; trong một hoài bão chung: nối kết những chặng đường lịch sử, thắp sáng ngọn đuốc thiêng của lý tưởng dân tộc đã truyền lại từ bao thế hệ trước, để soi đường cho những thế hệ mai sau. Sự chia xẻ một tâm nguyện sẽ xóa nhòa những biên giới của tuổi tác, của thành kiến, của tự ngã, để cho mọi người nắm lấy tay nhau và dìu dắt nhau đi cùng một con đường duy nhất - con đường trở về giải phóng và xây dựng quê hương.

Bảo Texas là cái nôi của Hưng Ca, rất đúng, vì buổi họp đầu tiên để thành lập Phong Trào diễn ra vào 30 tháng 4 năm 1985 tại Houston, Texas. Thành phần cột trụ của Phong Trào gồm 10 anh em kết nghĩa, với những người còn sinh hoạt từ 1985 cho tới hiện nay (27 năm), gồm: “Anh Hai” Huỳnh Công Ánh (nhạc sĩ), “Anh Tư” Nguyễn Hữu Nghĩa (nhạc sĩ), “Chị Bảy” Nguyệt Ánh (nhạc sĩ); “Anh Chín” Tuấn Minh (ca sĩ) và “Cậu Út” Việt Dzũng (nhạc sĩ). Nhóm anh em kết nghĩa này không điền khuyết những người ngưng sinh hoạt, nhưng Phong Trào Hưng Ca sau đó có thêm những khuôn mặt mới, đảm nhiệm nhiều trách vụ lãnh đạo, điều hành và sáng tác trong Phong Trào như Trương Sĩ Lương (nhà báo), Việt Phương (nhạc sĩ), Chi Huệ (giáo chức), Minh Huy (nhà giáo), Lưu Xuân Bảo (nhạc sĩ), Bích Châu (ca sĩ),..

Các Phong trào trưởng Hưng Ca, lần lượt gồm có Hà Thúc Sinh, Nguyễn Hữu Nghĩa, Huỳnh Công Ánh, Đào Trường Phúc, Huỳnh Lương Thiện, Tuấn Minh.
Trong thời thịnh nhất, Phong trào có rất đông các đơn vị ở Á châu, Âu châu, Úc châu và nhiều tiểu bang ở Hoa Kỳ, Canada. Hiện tại Hưng Ca tập trung sinh hoạt ở Canada, Virginia, Oregon, Texas, Florida và California.

QUAN HỌ KINH BẮC

Hỏi:
Anh Tư thân mến:
Kinh Bắc có phải là tỉnh Bắc Ninh? Nghe nói đó là cái nôi của quan họ? Xin nói về quan họ truyền thống, quan họ mới và các làng quan họ. (Trần Văn, Houston)

Đáp:
Ông Trần Văn thân mến: Kinh Bắc chính là tỉnh Bắc Ninh cũ. Từ 1995 tỉnh này bị chia ra làm hai, gồm Bắc Ninh và Bắc Giang.

Dân ca quan họ, còn gọi là dân ca “quan họ Bắc Ninh”, “dân ca quan họ Bắc Giang” hay “dân ca quan họ Kinh Bắc”, là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc phần, Việt Nam; tập trung ở vùng văn hóa Kinh Bắc. Loại hình dân ca này phát triển mạnh ở lưu vực sông Cầu, nằm giữa hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.

Từ ngày 30 tháng 9 năm 2009, UNESCO đã công nhận quan họ là di sản phi vật thể của nhân loại, sau nhã nhạc cung đình Huế, cồng chiêng Tây Nguyên và ca trù.
Về ý nghĩa, "quan họ" thường được tách lý giải nghĩa đen về mặt từ nguyên của "quan" và của "họ". Điều này dẫn đến những kiến giải về Quan họ xuất phát từ "âm nhạc cung đình", hay gắn với sự tích một ông quan khi đi qua vùng Kinh Bắc đã ngây ngất bởi tiếng hát của “liền anh liền chị” ở đó và đã dừng bước để thưởng thức ("họ"). Tuy nhiên cách lý giải này đã bỏ qua những thành tố của không gian sinh hoạt văn hóa quan họ như hình thức sinh hoạt (nghi thức các phường kết họ khiến anh hai, chị hai suốt đời chỉ là bạn, không thể kết thành duyên vợ chồng), diễn xướng, cách thức tổ chức và giao lưu, lối sử dụng từ ngữ đối nhau về nghĩa và thanh điệu trong sinh hoạt văn hóa đối đáp dân gian.
Một số quan điểm lại cho rằng Quan họ bắt nguồn từ những nghi lễ tôn giáo dân mang yếu tố phồn thực chứ không có nguồn gốc từ âm nhạc cung đình, hoặc có quan điểm nhận định diễn tiến của hình thức sinh hoạt văn hóa "chơi Quan họ" bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo dân gian qua cung đình rồi trở lại với dân gian.
Nhận định khác dựa trên phân tích ngữ nghĩa từ ngữ trong các làn điệu và không gian diễn xướng lại cho rằng Quan họ là "quan hệ" của một nhóm những người yêu quan họ ở vùng Kinh Bắc.

Tuy vậy vẫn chưa có quan điểm nào được đa số các học giả chấp nhận. Quan họ ngày nay không chỉ là lối hát giao duyên (hát đối) giữa "liền anh" (bên nam, người nam giới hát quan họ) và "liền chị" (bên nữ, người phụ nữ hát quan họ) mà còn là hình thức trao đổi tình cảm giữa liền anh, liền chị với khán giả. Một trong những hình thức biểu diễn hát quan họ mới là kiểu hát đối đáp giữa liền anh và liền chị. Kịch bản có thể diễn ra theo nội dung các câu hát đã được chuẩn bị từ trước hoặc tùy theo khả năng ứng biến của hai bên hát.

Quan họ truyền thống chỉ tồn tại ở 49 làng Quan họ gốc ở xứ Kinh Bắc. Quan họ truyền thống là hình thức tổ chức sinh hoạt văn hóa dân gian của người dân Kinh Bắc, với những quy định nghiêm ngặt, khắt khe đòi hỏi liền anh, liền chị phải am tường tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ. Điều này giải thích lý do người dân Kinh Bắc thích thú "chơi Quan họ", không phải là "hát Quan họ". Quan họ truyền thống không có nhạc đệm và chủ yếu hát đôi giữa liền anh và liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong quan họ truyền thống, đôi liền anh đối đáp với đôi liền chị được gọi là hát hội, hát canh; hát cả bọn, cả nhóm liền anh đối đáp cùng cả nhóm liền chị được gọi là hát chúc, mừng, hát thờ.

- "Chơi quan họ" truyền thống không có khán giả, người trình diễn đồng thời là người thưởng thức (thưởng thức "cái tình" của bạn hát). Nhiều bài quan họ truyền thống vẫn được các liền anh, liền chị "chơi quan họ" ưa thích đến tận ngày nay như : Hừ La ,La rằng, Tình tang, Bạn kim lan, Cái ả, Cây gạo.

Quan họ mới còn được gọi là "hát Quan họ", là hình thức biểu diễn (hát) quan họ chính yếu trên sân khấu hoặc trong các sinh hoạt cộng đồng Tết đầu xuân, lễ hội, hoạt động du lịch, nhà hàng,.. Thực tế, quan họ mới được trình diễn vào bất kỳ ngày nào trong năm. Các băng đĩa CD, DVD về quan họ ngày nay đều là hình thức quan họ biểu diễn trên sân khấu, tức quan họ mới. Quan họ mới luôn có khán thính giả, người hát trao đổi tình cảm với khán thính giả không còn là tình cảm giữa bạn hát với nhau. Quan họ mới không còn nằm ở không gian làng xã mà đã vươn ra ở nhiều nơi, đến với nhiều thính giả ở các quốc gia trên trên thế giới.
Quan họ mới có hình thức biểu diễn phong phú hơn quan họ truyền thống, bao gồm cả hát đơn, hát đôi, hát tốp, hát có múa phụ họa... Quan họ mới cải biên các bài bản truyền thống theo hai cách: không có ý thức và có ý thức. Dù ít hay nhiều nhưng hình thức hát quan họ có nhạc đệm được coi là cách cải biên không có ý thức. Đa số các bài quan họ mới thuộc dạng cải biên này. Cải biên có ý thức là những bài bản đã cải biên cả nhạc và lời của bài bản quan họ truyền thống. Loại cải biên này không nhiều, ví dụ bài "Người ở đừng về" là cải biên từ làn điệu "Chuông vàng gác cửa tam quan" (Xuân Tứ cải biên).

Hát quan họ với lời mới được nhiều người yêu thích tới mức tưởng nhầm là quan họ truyền thống như bài "Sông Cầu nước chảy lơ thơ" do Mai Khanh soạn lời mới từ làn điệu truyền thống "Nhất quế nhị lan". Quan họ mới được ưa thích hơn quan họ truyền thống không phải do không gian và những sinh hoạt theo lề lối cổ của quan họ không còn nữa mà một phần do hoạt động "hát quan họ" ngày nay thường được giới thiệu, quảng bá quan họ trên diện rộng.

Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có 23 làng quan họ, tỉnh Bắc Ninh có 44 làng quan họ. Do chậm trễ, có tới 18 làng Quan họ cổ ở Bắc Giang không kịp đưa vào danh sách đề cử ban đầu. Các làng quan họ Kinh Bắc tồn tại nhiều ở các huyện: Yên Phong, Từ Sơn, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh (còn gọi là quan họ bờ nam sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Ninh) và các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa (còn gọi là quan họ bờ bắc sông Cầu thuộc tỉnh Bắc Giang).

Trong phạm vi công nhận chính thức ban đầu chỉ gồm có 49 làng Quan họ tồn tại:
• Huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang gồm 5 làng: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ.
• Huyện Yên Phong gồm 16 làng: Hữu Chấp, Viêm Xá, Đẩu Hàn, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Viên, Thượng Đồng, Thụ Ninh, Đặng Xá, Khúc Toại, Trà Xuyên, Ông Mơi, Đông Yên, Châm Khê, Đào Xá, Dương Ổ.
• Thành phố Bắc Ninh gồm 14 làng: Cổ Mễ, Phúc Sơn, Y Na, Thị Cầu, Thanh Sơn, Niềm Xá, Yên Mẫn, Yên Thị Trung, Vệ An, Ỗ Xá, Xuân Ổ, Hòa Đình, Khả Lễ, Bồ Sơn.
• Thị xã Từ Sơn và Tiên Du gồm 14 làng: Duệ Đông, Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Hoài Thị, Hoàng Trung, Vân Khám, Bái Uyên, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Tiêu, Tam Sơn, Hạ Giang.
18 làng Quan họ Bắc Giang được bổ sung sau này gồm 2 làng quan họ Hiệp Hòa, 2 làng quan họ Yên Dũng và 14 làng quan họ Việt Yên đã được công nhận năm 2010 gồm:[13]
• Huyện Việt Yên gồm 14 làng: Mật Ninh, Quang Biểu, Núi Hiểu, Tam Tầng, Thổ Hà, Tiên Lát Thượng, Tiên Lát Hạ, Thần Chúc, Yên Ninh, Trung Đồng, Vân Cốc, Đình Cả, Đông Long, Khả Lý Thượng.[14]
• Huyện Hiệp Hòa có 2 làng: Xuân Thành và Ngọ Xá.
• Huyện Yên Dũng có 2 làng: Yên Hà và Yên Thịnh.

Về làn điệu, Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn được lưu giữ tại Bắc Giang và Bắc Ninh.

Các làn điệu quan họ cổ: La rằng, Đường bạn Kim Loan, Cây gạo, Giã bạn, Hừ la, La hời, Tình tang, Cái ả, Lên núi, Xuống sông, Cái hờn, cái ả, Gió mát trăng thanh, Tứ quý, v.v.

Copyright © 2008 - All rights reserved.