

|
MX Phạm Văn Tiền (Viết để tưởng nhớ những bà mẹ Việt Nam nhân ngày “Hiền Mẫu”)Tôi chào đời ở một làng nằm ven thị trấn, nơi có khu rừng ngút ngàn và những cánh đồng thẳng tắp màu mạ mới. Lúc lên 4 tuổi đã biết chạy giặc Tây với câu hát nằm lòng mà tôi đã thuộc không biết tự lúc nào: “Mới sớm mai thằng Tây nó bố vô rừng ta quyết trốn, bà con ta vừa khóc vừa la đồn khắp từ phương xa”. Hình ảnh những đòan quân kháng chiến chống Pháp, với những chiếc võng gồng gánh các thương binh mà tôi thường bắt gặp mỗi chiều trên con lộ gần nhà, đã trở thành những kỷ niệm khó quên nhất của tôi thời thơ ấu. Theo lời kể lại của cha thì họ là những anh hùng dân tộc, hy sinh cuộc đời mình để đánh đuổi ngọai xâm và ông rất hãnh diện vì có chú “Út” tôi trong đòan quân đó. Chú thường về nhà lúc nửa đêm khi bọn tôi đã ngủ và ra đi trước khi trời sáng. Mẹ tôi thường hay thức suốt đêm để chuẩn bị nhiều thức ăn dành riêng cho chú, mặc dầu đời sống hiện tại của gia đình vẫn còn đói lên đói xuống. Nghe lời bàn tán của các người lớn tuổi trong xóm thì chú “Út” tôi là một vị anh hùng, chú gan lì đã nhiều lần chỉ huy xung kích đánh phá các đồn bót Tây, chú vẫn sống nhăn và trở về bình yên chẳng hề hấn gì, còn anh chị em chúng tôi thì xem chú như thần tượng. Một buổi chiều cuối năm, trong khi mọi nhà đều vui vẻ lo nấu nướng bánh tét bánh chưng ăn Tết trong cảnh nơm nớp lo sợ Tây bố hàng ngày, nhưng riêng gia đình tôi thì mọi người ai cũng khóc vì vừa được tin buồn, chú Út đã tử trận trong một lần xung phong đánh vào đồn binh giặc. Đây quả là một tin sét đánh đối với cha, vì bao nhiêu tình thương mà ông đã dành hết cho chú kể từ khi ông bà nội tôi mất. Bọn giặc đã kéo xác chú ra nằm giữa lộ thiên để đồng bào chiêm ngưỡng và xem đây như là một chiến thắng lớn lao. Cha tôi buồn lắm nên đêm nào ông cũng thắp nhang cầu nguyện cho chú, ông trở nên một người thầm lặng ít nói, không còn tự nhiên vui vẻ như xưa. Cha và người anh cả của tôi vẫn tiếp tục cày bừa trên những mảnh ruộng còn lại của gia đình, còn tôi và hai bà chị nhỏ cùng mẹ chỉ quanh quẩn ở nhà, lúc nào cũng sẵn sàng trong tư thế chạy giặc. Mỗi lần Tây bố, cha và anh chạy một nơi, còn mẹ và chúng tôi chạy một nơi, nhiều khi cả tuần lễ mới gặp nhau tại nhà sau khi chúng rút. Lần cuối cùng khi theo mẹ trở về thì căn nhà xinh đẹp chỉ còn là đống tro tàn đang âm ỉ cháy, gia sản suốt cả đời ông nội đã để lại cho cha. Bà bác họ đang nằm rên rỉ bên cạnh mấy bụi chuối sau nhà, mình đầy vết máu tươi vì vừa bị Tây hiếp. Cha và anh cũng tức tốc trở về từ rừng sâu sau nhiều ngày trốn giặc. Lần đầu tiên hương vị cay đắng của cuộc đời đã thấm sâu vào đầu óc non nớt của một trẻ thơ, khi thấy mọi người cùng té nhào ra khóc.Những giọt nước mắt tức tưởi nghẹn ngào, tiếc thương cho cả gia sản đã được gầy dựng bằng mồ hôi nước mắt từ bao đời của tổ tiên dành dụm để lại. Như cố đè nén lại nỗi đau cùng tột nầy, cha vẫn là người bình tĩnh chạy vội múc từng gáo nước từ giếng sâu hầu dập tắt đám cháy. Mẹ và các anh chị gắng sức bòn mót những gì có thể dùng được từ những mất mát quá lớn lao. Của cải giờ đây chỉ còn lại chiếc xe bò cũ kỹ, cọc cạch cùng những manh áo rách tả tơi. Sáng hôm sau gia đình tôi đành phải dọn về một nơi khác, ở đó có bà cô họ đang sống, không còn phải sợ cảnh Tây bố ráp mỗi ngày. Thị trấn tôi đến có nhiều dãy phố nằm sát con sông nước ngọt quanh năm, chợ hợp tan tùy theo con nước lớn lên xuống mỗi ngày, nằm gọn lỏn vào ngã tẻ của quốc lộ 13 dẫn qua 2 chiếc cầu đúc xinh xắn. Đối diện bên kia sông là bến xe đò chở khách, cầu trên dẫn về rạp hát lớn “Phương Lạc” thị xã, còn bến tắm ngựa nằm ngay chân cầu dưới sau khi đã qua rạp hát “ Tân Lạc”, nơi đùa giỡn của bọn con nít mỗi chiều khi tan học về. Niềm sung sướng nhất của tôi là đứng trên lan can cầu nhắm mắt nhảy đùng xuống nước, rồi ngụp lặn theo những đám lục bình đang chảy xiết, cùng chúng bạn tát nước vào mặt lẫn nhau. Cả gia đình chúng tôi được nhét vào một cái chòi nhỏ lợp bằng tranh sống nhờ vào lòng từ tâm của người khác. Hàng ngày cha mẹ cùng các anh chị phải trở về làng cũ để bòn kiếm những gì có thể ăn được để mang về. Không có gạo để ăn, cả gia đình sống nhờ một loại củ đặc biệt mọc ở trong rừng, loại củ “nần” dây có gai như củ khoai từ. Không tiền để mua, nên phải dùng muối thay cho nước mắm. Mọi người ai cũng tất bật sinh nhai nên chẳng ai để ý đến tôi, người con trai Út được cả nhà nuông chiều. Tôi đã trở thành đứa trẻ lang thang không quần áo cùng chúng bạn suốt đầu trên xóm dưới từ sáng tới chiều. Ai cho gì ăn nấy, không hiểu được những khó khăn mà gia đình đang gặp phải. Tôi mê mải những trò chơi riêng của mình tùy theo thời tiết mỗi mùa quanh năm suốt tháng. Thỉnh thoảng thì tôi cũng kiếm được năm ba đồng đủ để ăn được tô hủ tiếu nhờ đi lượm hột cao su nơi khu rừng bên cạnh nhà thờ, hay vác cuốc đào hàng chục con dế đá đem ra bán lại cho con của mấy người nhà giàu ở chợ. Tôi đã biến căn nhà trọ của gia đình thành cái sở thú bé nhỏ, nơi nuôi tất cả những con vật mà tôi đã vất vả mang về. Tôi mê mải đi tìm cào cào châu chấu giữa trời nắng chang chang để nuôi những con chim mà tôi đã bắt được ngòai đồng, và thường bị mẹ đánh đòn về những việc làm vô ích nầy vì sợ tôi bị bệnh. Bà nhiều lần đã ra tay phóng thích các con chim của tôi nuôi được trong lồng, trong đó có con chim “cưởng” đang tập nói cưng nhất của tôi. Phản ứng lại tôi đã òa khóc và giận dữ đến nỗi không thèm ăn cơm chiều hôm đó. Dù vậy nhưng tôi vẫn chứng nào tật ấy. Mẹ rất bực mình, để chấm dứt tình trạng lêu lỏng của tôi không gì bằng gửi đến trường nhờ cô thầy chỉ dạy. Mới hơn 5 tuổi chẳng ai nhận vào trường, mẹ phải tất tả chạy ngược chạy xuôi để nhờ làm khai sanh giả cho đủ 7 tuổi đi học. Mặc dầu ăn uống thiếu thốn, nhưng tôi là một đứa trẻ lớn con nên việc được nhận học thật dễ dàng. Các chị tôi cũng vậy, đều được cắp sách đến trường như bao đứa trẻ khác, chỉ trừ anh tôi là cột trụ của gia đình phải phụ giúp ba tôi nên đành thất học. Tôi học ở trường tiểu học “Bổ túc Lái Thiêu”, một trường công lập duy nhất tại quận. Tôi là một học sinh tệ nhất của lớp trong những năm đầu, không bao giờ thuộc bài mà lại còn hay ba gai đánh lộn, tập sách đi thì có mà về thì không, bao nhiêu lần bỏ quên ở lớp đều bị mất hết, mẹ tôi phải sắm đi sắm lại nhiều lần. Một lần, tôi đã mang hộp dế đá vào trong lớp trong lúc thầy kêu lên bảng trả bài, tôi đang ú ớ chẳng biết thầy hỏi cái gì thì nơi chỗ tôi ngồi con dế lại cất tiếng gáy “te te”, tức quá thầy nện cho tôi mấy hèo roi mây và bắt ra sân quỳ gối. Chuyện bị thầy phạt đối với tôi coi như là những chuyện thường ngày; mẹ tôi đã được thầy mời đến mắng vốn nhiều lần, còn tôi thì cứ nài nỉ mẹ xin nghỉ nhưng nhất định mẹ không cho. Cứ thế mà tôi vẫn từ từ bò lên tới lớp cuối của bậc tiểu học, không năm nào bị ở lại. Theo mẹ thì nhờ có ông bà độ, tôi học rất dốt toán nhưng có cái hay là bất cứ bài thơ văn nào chỉ cần nghe qua một lần là thuộc, theo thầy nói là bài thi luận văn của tôi khi tốt nghiệp được chấm điểm rất khá, còn toán thì chỉ được1, 2 điểm gì đó. Năm ấy lần đầu tiên trong cuộc đời đi học tôi được thầy cho lãnh thưởng, nhưng là phần thưởng dành cho học trò nghèo, được mấy xấp vải trắng để may đồ do một vị hảo tâm tặng, mẹ tôi mừng lắm đem khoe cả làng cả xóm “thằng con tôi học giỏi được lãnh thưởng kỳ nầy”. Người mẹ nào cũng vậy, suốt đời luôn hãnh diện về đứa con mình, mặc dầu biết sự thật là con mình chẳng bằng ai. Ôi! “Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào...” Năm 1956 là năm tôi tốt nghiệp Tiểu học, lần đầu tiên miễn lên trên tỉnh để thi. Thấy cha và anh quá cực khổ hàng ngày dãi nắng dầm mưa, từ sáng tinh mơ cho đến khi chiều tối để có miếng ăn, vả lại biết mình học hành chẳng ra gì nên tôi nài nỉ mẹ xin nghỉ học, nhưng mẹ cũng nhất định không cho. Mẹ quyết định các chị tôi phải nghỉ để dồn sức lo cho tôi, mẹ bắt tôi làm đơn thi vào trường Trịnh hòai Đức, trường trung học công lập đầu tiên của tỉnh. Theo mẹ thì một chữ cũng thi, hai chữ cũng thi, biết đâu học tài thi phận. Khi công bố kết quả tôi chẳng muốn đi nghe làm gì vì tôi đã phải cắn viết trong phòng thi, còn mẹ chẳng chịu thua, phải đạp xe hơn 7km để đi nghe một mình vì tin biết đâu có quới nhơn phù trợ. Khi về mẹ buồn lắm vì chẳng thấy tên đứa con cưng của mẹ đâu cả. Nhà tôi đang ở trong xóm lò gốm, đa số sống được nhờ làm công nhân để sản xuất ra chén tô, bình bông. Lúc bấy giờ là thời bình nên ai cũng có một đời sống tương đối. Tôi đã biết chút đỉnh nghề nầy nhờ theo học ở các người lớn tuổi. Tôi xin mẹ đi làm vì biết mình chẳng có khiếu nào để học nữa, nhưng mẹ giận dữ và cương quyết bắt tôi tiếp tục học dù phải đóng tiền học ở trường tư. Ở quận chưa có trường trung học tư thục nào nên đành phải lên tỉnh học. Nhờ người quen dẫn dắt mẹ đã đóng tiền cho tôi vào lớp đệ thất trường trung học bán công Phú Cường, thị xã Bình Dương với học phí mỗi tháng 120 đồng. Trường học mới là những mái nhà tôn nằm trên một đỉnh đồi cao cùng với ngôi chùa “Bửu Tự”có đường ăn thông lên bệnh viện tỉnh. Mẹ vay tiền sắm cho tôi một chiếc xe đạp mới toanh hầu bảo đảm đi đường xa. Từ Lái Thiêu hàng ngày tôi phải đạp xe đến trường, đi và về mỗi lượt là 11km, mẹ phải thức dậy thật sớm mỗi ngày để lo phần cơm cho tôi ăn vào buổi trưa. Những ngày đầu tôi còn theo chúng bạn bỏ học đi đá banh, hoặc vào rừng dùng “ná” bắn chim, hay rình bắt những ổ sóc con mới đẻ, tập vở trống lốc chẳng có ghi được một chữ nào. Nhà trường gửi thư về nhà báo tin cho mẹ, mẹ rất buồn và giận dữ bắt tôi nằm xuống trừng trị hơn chục hèo roi mây, mông tôi bầm tím được chị tôi mang vào nhà tắm để tắm. Lần đầu tiên tôi thấy mẹ buồn và khóc thật nhiều, các chị tôi cũng thế, thường khuyên tôi hãy ráng học đừng làm mẹ buồn. “Em coi trong xóm có đứa nào được đi học như em đâu? Chị cũng muốn đi học lắm mà mẹ đâu đủ sức, chỉ có lo nổi mình em”. Bắt đầu từ trận đòn đau nầy tôi mới thấm thiá thế nào là tình thương của mẹ, tôi đã thật sự ân hận về những việc làm của mình. Tôi lánh xa những thằng bạn bỏ học ham chơi để bắt đầu vào việc học. Những bài tóan không hiểu tôi nhờ những người bạn cùng lớp giỏi hơn giúp đỡ, nhờ vậy mà từ một học sinh đội sổ tôi đã ngoi lên được hạng trung bình vào cuối năm đệ thất. Vào dịp nghỉ hè năm ấy tôi đã nộp đơn thi lại vào lớp đệ lục trường trung học công lập Trịnh hòai Đức của tỉnh tại Búng. Gần cả trăm học sinh dự thi nhưng tôi đã lọt được vào hạng 2 trong số 5 thí sinh được tuyển. Nhờ may mắn tôi đã trúng được bài toán tủ của thầy vừa mới dạy, cộng thêm vào bài luận văn xuất sắc của mình. Hơn ai hết mẹ tôi là người mừng và hãnh diện nhất. Ngôi trường mới nằm giữa cánh đồng lúa về bên phải quốc lộ từ Lái Thiêu đến Bình Dương, một dãy nhà lầu cao 2 tầng trắng tóat màu vôi mới. Trai gái học chung sau nầy thì nữ sinh tách riêng về một ngôi trường khác, trường nữ Trịnh hoài Đức cách đó không xa về hướng chợ Búng, có xe lửa chạy xình xịch qua lại mỗi ngày. Tôi vẫn là một học sinh không mấy khá trong lớp suốt năm học ấy. Để chuẩn bị cho năm lên đệ ngũ, mẹ tôi đã cho học thêm hai tháng hè. Những bài vở nào không hiểu tôi nhờ bạn giúp đỡ hay học thêm các sách luyện bài tập tại nhà. Tôi học ngày học đêm kể cả quên ăn, quên ngủ. Mẹ tôi thường nhờ mấy người bạn mua thêm các sách cũ bán đầy các vỉa hè đường phố SàiGòn. Năm 1960 tôi đã qua được kỳ thi “Trung học đệ nhất cấp” ngay trong kỳ nhứt dễ dàng với tỷ lệ đậu 7% trên tòan quốc. Bắt đầu lên đệ tam thì xảy ra cuộc đảo chánh đầu tiên, chân dung Ngô Tổng Thống bị hạ bệ xuống để rồi treo lại sau đó vài ngày. Lòng vui mừng được hát lại bài “Suy tôn Ngô Tổng Thống, Ngô Tổng Thống muôn năm” vào mỗi sáng thứ hai chào cờ. Trường bây giờ được bao quanh với hàng phượng vĩ đỏ thắm mỗi độ hè về, có sân vận động phía sau và thêm phòng thí nghiệm. Hôm cắt băng khánh thành, bom plastic đã nổ làm bị thương nhẹ một số nữ sinh về phía dàn chào, ngày hôm sau công an tỉnh đến bắt đi Mỹ, Thuận và một số học sinh khác ở lớp dưới. Chiến tranh bắt đầu nhen nhúm lại, lan rộng khắp nơi kể cả sân trường. Lớp học dần dần thưa đi ở những năm học cuối cùng, một số thi rớt nản chí bỏ học nửa chừng, phần còn lại đang sống trong vùng kềm kẹp Cộng sản phải vào “bưng”kháng chiến, số còn lại ở vùng Quốc gia thì tình nguyện lên đường tòng quân nhập ngũ. Các thầy bị động viên vào trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức, riêng G bạn tôi bỏ học nửa chừng năm đệ nhất để thi tuyển vào khóa 19 Sinh viên Sĩ Quan trường Võ Bị (khóa 19 lấy tòan phần hai, chỉ nhận vài người phần một phải qua kỳ thi tuyển).Vì lớp đệ nhất năm thứ nhì của trường, học sinh chẳng bao nhiêu nên trai gái phải học chung và sự ra đi của G là điều bất ngờ chung cho cả lớp. Vài tháng sau, tôi nhận được thư G từ tay thầy Giám Thị. Thư viết ngắn gọn về những sinh hoạt hàng ngày có kèm theo vài tấm ảnh, tôi thích nhất tấm ảnh G trong bộ quân phục đại lễ màu trắng tinh có phù hiệu chữ “Alpha” đỏ chót trên vai và thanh kiếm sáng chỉa thẳng lên trời. Thư được chuyền cho cả lớp, ai nấy cũng đều vui mừng và hãnh diện về người bạn của mình, nhưng đặc biệt là H, cô nữ sinh hoa khôi của cả lớp. Đây có lẽ là khởi điểm tình cảm của hai người mãi mãi về sau nầy. Phần tôi vẫn nhận được thư G đều đặn cho đến cuối năm học, G dặn thật tỷ mỉ về những gian khổ của 8 tuần lễ huấn nhục đầu tiên, hãy cố gắng mà luyện tập thể xác cho nhiều. Tôi qua được Phần Hai không mấy khó khăn ở kỳ thi đầu, việc còn lại chỉ là lo thủ tục để chờ đợi ngày lên đường. Các người bạn cùng kháng chiến chống Tây của chú Út tôi nay đã trở thành những tên Cộng Sản nằm vùng, đã nhiều lần làm áp lực với cha ngăn cản không cho tôi nạp đơn nhập ngũ, cha sợ không dám về lại mảnh vườn xưa để cày bừa làm rẫy nữa. Đầu tháng 11 năm 1963 lại có thêm một cuộc đảo chánh nữa, lần nầy một số tướng lãnh nhân danh “Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng” lật đổ chính phủ và bắt giết đi anh em vị Tổng Thống. Mãi về sau nầy khi trưởng thành trong quân ngũ tôi mới biết rằng đây là điều sai lầm lớn dẫn đến sự tàn phá nghèo nàn của đất nước tôi. Đã có bom nổ nơi thị trấn tôi ở và nhiều người chết hàng ngày, cuộc chiến đã thật sự bắt đầu ác liệt khắp mọi nơi. Tôi vẫn sống những ngày tháng bình yên trong khi chờ đợi giấy gọi lên đường nhập ngũ, hàng đêm tôi vẫn theo học lớp bổ túc Anh Văn do các vị cố vấn Mỹ tại quận chỉ dạy. Do có căn bản văn phạm nên tôi học rất nhanh, chiếm được cảm tình của nhiều người trong đó có một cô bạn gái cùng lớp. Một lần sau khi tan học, tôi đang đứng núp mưa dưới mái hiên trường, thì may mắn thay được người đẹp đến với chiếc dù căng rộng sẵn sàng mời tôi cùng về. Lần đầu tiên trong đời tôi cảm thấy hồi hộp, tim đập loạn cào cào được đi bên cạnh người đẹp mà chẳng biết nói gì, chỉ biết cám ơn khi chia tay mà lòng vẫn luyến tiếc hứa hẹn những ngày học hôm sau. Từ hôm đó ngày nào nàng cũng đợi tôi khi tan học, đi bên cạnh nhau để rồi chia tay ai về nhà nấy. Nàng nhờ tôi cứ mỗi tuần 2 lần về nhà nàng vào buổi trưa để kèm nàng học, nàng đang theo học lớp đệ tam của một trường tư thục, còn tôi đã là cậu Tú tòan phần. Chuyện tình cứ thế kéo dài mà chẳng ai dám mở lời trước. Nàng rất dạn, nhiều lần đến nhà tôi trong lúc tôi cùng các chị gánh nước từ giếng về nhà, gặp nàng tôi mất tự nhiên, chỉ còn có cách chạy trốn nhờ chị tiếp khách giùm. Nhận được giấy nhập trường vào tháng 12 quá trễ, nàng hẹn tôi đi cùng chuyến xe đò từ Lái Thiêu về SàiGòn để cùng xem ciné và luôn tiện tìm mua cho tôi một chiếc áo ấm như ngầm để hứa hẹn tương lai. Suốt gần 2 tiếng đồng hồ trong rạp ciné Đại Nam tôi chỉ dám cầm tay nàng một lần duy nhất, đó là lúc đèn sáng khi chấm dứt phim với lời nói ấp úng “Sao tay L lạnh quá!” Từ nhỏ tới lớn chưa bao giờ tôi có dịp xa nhà, đây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi đã phải đi xa nhất. Hôm tiễn tôi tại phi trường Tân Sơn Nhất, mẹ và các chị đã khóc thiệt nhiều, còn nàng thì cũng ứa lệ bảo tôi đến nơi nhớ viết thư về. Chiếc phi cơ quân sự chao đảo một vài vòng rồi bay vút lên không trung, bỏ lại phía sau cả một vùng trời quê hương yêu dấu, nơi tôi đã cất tiếng khóc chào đời. Còn đâu những buổi chiều tan học chạy nhảy tung tăng ở sân banh gần nhà thờ và đêm về cha nằm đọc sách, mẹ thêu thùa kim chỉ vá may. Chỗ tôi đến là vùng đá đỏ cao nguyên chạy dài bằng những đồi thông ngút ngàn, có tiếng thác nước chảy ào ào bên đỉnh Lâm Viên cao hùng vĩ. Đà Lạt là nơi sản sinh nhiều lòai hoa quý, hoa anh đào nở rộ mùa Xuân cùng mimosa, pensé và những cụm lan rừng. Hãy nhớ mà mang về một vài cành hoa khi về phép. Phi trường Liên Khương vào tháng 12 với những cơn gió lạnh buốt xương nhưng ấm lòng tình người tiếp đón. Đời tôi đang chuyển qua một khúc quanh mới, khúc quanh của con đường lắm thác ghềnh cùng bao hố sâu vực thẳm. Đứng bên nầy là đỉnh đồi, còn bên kia trong tận cùng mất hút. Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam tọa lạc trên đỉnh đồi 1515, kiến trúc theo lối tân kỳ với nhiều dãy nhà cao tầng đỏ chót màu ngói mới, nằm vuông vức trên miếng đất hình chữ nhật với con đường trải nhựa bọc quanh, mặt chính trông về ngọn núi Lapé Nord hùng vĩ. Muốn vào trong trường phải qua 2 cổng chính, phạn điếm ở trong cùng dẫn về cổng sau Tôn Thất Lễ. Phòng ngủ gồm 3 tầng lầu với các batiments thẳng tấp, nằm đối diện nhau cách khỏang bởi sân tập họp, một bên ăn liền ra cổng chính bằng khu học văn hóa và bộ chỉ huy nhà trường, bên kia khu nhà H, mặt sau hướng về Vũ Đình Trường Lê Lợi nơi chào chờ hàng tuần và các nghi lễ quan trọng.Sau nầy khi khóa 22 bắt đầu lại quy chế 4 năm có cơ sở kỹ nghệ nặng được xây cất thêm ở bên cạnh. Lễ nhập trường diễn ra khá long trọng, vị sinh viên sĩ quan niên trưởng trong bộ quân phục tươm tất, có đôi lời chúc tụng chào mừng, trước khi bản hùng ca “Võ Bị Hành Khúc” được trổi lên từ ban quân nhạc nhà trường. Bên ngoài trước đây là vùng trời bình yên cùng biết bao lời hay ý đẹp dành cho chúng tôi, nhưng bên trong khi bắt đầu vào cổng chính là cả chiến trường sôi nổi, cùng những lời mạt sát thậm tệ chỉ dành cho những tội nhân. Chúng tôi như lạc lõng bơ vơ từ trời cao rớt xuống, không còn biết mình là ai, tại sao lại ngu dại chui vào đây để bọn người gian ác xài xể. Họ là những tên mặc áo vàng mang phù hiệu đỏ chót trên vai áo, đầu đội mũ nhựa miệng mồm la hét lung tung, họ là những niên trưởng, những thằng bạn rất thân ở ngòai đời, nhưng bây giờ lại trở thành những tên khát máu, “Chạy, chạy nhanh lên, ba gai, làm biếng phải không? Đồ ngu, đồ biểu tình phản chiến...”. Có vài người quá tức giận, cãi vã phía sau, còn tôi thì quá rét cứ cắm đầu, cắm cổ mà chạy, mong tìm được sự nghỉ ngơi khi đến đích: “Anh chạy hay lắm phải không, ai dặn anh mang giày ba ta, anh ba gai hả? Hãy theo tôi nhanh lên!” Một vòng sân, hai vòng sân, ba bốn vòng sân.., nhiều quá tôi không tài nào nhớ được, túi hành trang mang theo trong đó có chiếc áo ấm của người bạn gái đã rơi mất đâu đó ở dọc đường. Mệt quá tôi đâm lỳ, thở hổn hển lê lết từng bước một, lại có lệnh cho tôi “hít đất”. “Tôi đâu có tội gì mà các ông hành hạ dữ vậy?” “Không cần biết, đây chỉ là lệnh, phải thi hành nghe không?” Miễn cưỡng tôi nằm dài trên mặt cỏ, 2 tay chống xuống đất, nhưng sức đâu còn nữa mà hít, bao nhiêu thức ăn trưa trong lúc chờ đợi tại câu lạc bộ ngòai cổng trường tôi đã ói ra hết, miệng lầm bầm van vái: “Mẹ ơi, Chúa ơi, Phật ơi hãy cứu con!”, nước mắt đầm đìa trên má. Giận đời, giận mình, giận thằng bạn ác ôn lường gạt. “Anh đứng dậy coi nào, chống đối phải không? Theo tôi, anh hãy chui vào ống cống nầy theo nhịp đếm của tôi”, một tên ác ôn khác đến cùng phụ đẩy mạnh tôi vào. Ngột ngạt tối tăm, hôi thúi và tôi đã ngất xỉu khi cố trườn mình qua miệng cống bên kia. Tỉnh dậy khi trời nhá nhem tối, bụng cồn cào đói lả, tôi được dìu đến bàn ăn bằng những bộ mặt đanh thép lạnh lùng. Khóa 19 đàn anh của tôi, họ là những hung thần đang đày ải tội nhân. Giọng hát thật buồn của ca sĩ Hà Thanh từ góc phạn điếm với bài nhạc Biệt Kinh Kỳ “Bạn ơi! Quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã đi xa rồi, thành đô yêu dấu vắng bước chân tôi...” Phải, tôi đã xa, xa thật rồi, tôi đã đánh mất tất cả những ngày xưa đầy mơ mộng nhất của tuổi học trò. Nước mắt ứa ra từ bao giờ, lăn nhẹ trên má làm mằn mặn đôi môi. Thì ra tôi và bao bạn bè khác đã khóc, khóc thật sự cho cuộc đời lầm lẫn của mình. Có xe chở về trường cũ lãnh quân trang, áo quần được phát quá nhiều trong túi vải đầy cứng. May mắn tôi được về căn phòng ở lầu hai nơi có T, người bạn học cũ. T cũng khóa 20 như tôi nhưng đến đây trước hai tuần. Chúng tôi vẫn bị phạt và hành xác mỗi ngày, không có một phút để nghỉ ngơi. Chúng tôi bị sỉ nhục thể diện ngay cả giờ ăn, giấc ngủ. Còn G, người bạn thân nhất của tôi thì đâu mất rồi, biệt vô âm tín, chẳng thấy xuất hiện dù chỉ một lời hỏi thăm an ủi. Những đêm đầu tiên quá căng thẳng vì mất hết tinh thần, đã có nhiều người dự định trốn, chạy càng xa cái địa ngục nầy bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Tôi nhìn quanh nơi doanh trại tòan là rừng và rào kẽm vây bốn bề, vả lại biết về đâu bây giờ? Nhớ lại lời dặn thật tỉ mỉ của mấy tên ác ôn đàn anh là đừng bao giờ có ý định chạy trốn vì tứ phía đã được gài đầy mìn và lựu đạn, thôi thì lỡ rồi ráng chịu vậy chớ sao? Đêm nào tôi cũng khóc vì nhớ mẹ, nhớ nhà. Giờ giấc bây giờ chỉ lệ thuộc vào các hồi kèn, không còn chút rảnh rỗi nào để suy tư cho riêng mình. Buổi sáng thức dậy chỉ có 15 phút làm vệ sinh, lau phòng, xếp gọn chăn mền, chuẩn bị tập họp đi ăn, ai ra trước thì phải đứng nghiêm đúng thế, còn trễ thì hít đất hay chạy vài vòng sân. Chỉ có vỏn vẹn chưa đầy 1 tuần lễ mà tôi đã được lột xác hòan tòan. Giờ tôi là chú tân binh tò te trong bộ quân phục rộng thùng thình cùng chiếc đầu trọc lóc, biết ngồi ăn thẳng lưng theo thế vuông góc và chập chững bước đi theo nhịp đếm 1, 2. Mỗi lần có thư gia đình là mỗi lần cười ra nước mắt, thư được đọc trước hàng quân và khi trình diện nhận về phải thi hành 50 hay 100 cái hít đất, nhảy xổm, vì vậy chẳng ai muốn có thư, nhất là người yêu của mình trong lúc nầy. Đã có vài người phải hít đất và hôn xuống mặt đường hàng trăm lần, vì trong đọan tái bút ướt át của người yêu có câu: “Trao về anh nhiều nụ hôn nồng cháy”. Chiều thứ bảy hàng tuần là lúc bận rộn nhất của cuộc đời tân khóa sinh. Các niên trưởng đàn anh trong bộ jaspet tuyệt đẹp để nhởn nhơ đi phố, trong khi đàn em khổ đau sẵn sàng cho một cuộc khám xét gay go, vất vả. Quần áo, chăn mền, giày dép và tất cả dụng cụ cá nhân kể cả súng đạn phải được sạch sẽ gọn gàng theo đúng ni tấc, kiểu mẫu ấn định. Lỗi lầm nhỏ thì bị phạt tại chỗ, to hơn thì một vài đêm phạt dã chiến. Đây là hình phạt nặng nhất, thường khi thi hành xong phải có người bạn khác dìu về phòng. Lại còn bao lần khác hành xác tập thể hay xảy ra sau mỗi lần khám xét hoặc dạo phố trở về. “Các anh bê bối, luộm thuộm, lờ quờ, dơ dáy, chậm chạp, vô lễ, nham nhở, cười ruồi tâm tình với thợ giặt, thậm chí có người còn dám bắt tay,vỗ bụng niên trưởng…”..., biết bao danh từ xấu xa nhất đổ vào đầu chúng tôi theo trí tưởng tượng của người chỉ huy phiên trực. Mọi mệnh lệnh lúc nầy chúng tôi phải tuyệt đối tuân theo, dù oan ức đến đâu cũng không có quyền thắc mắc khiếu nại. Cầm trái ớt bảo là trái chuối cũng phải ăn, cay xé miệng cũng không được hít hà, phải trả lời là rất ngọt vì chuối mà tại sao là cay? Thế rồi 8 tuần lễ huấn nhục cũng chậm chạp qua đi trong sự thèm khát chờ đợi, để rồi ba lô lên vai cùng súng đạn tiến chiếm đỉnh Lâm Viên cao ngút ngàn theo truyền thống hàng năm mỗi khóa. Lễ gắn “Alpha” để chấm dứt thời gian huấn nhục đã được tổ chức vài đêm sau đó tại “Vũ Đình Trường” với sự hiện hiện đông đủ của thân nhân và tòan thể cán bộ nhà trường. “Quỳ xuống Tân Khóa Sinh, Đứng dậy Sinh Viên Sĩ Quan” mãi mãi là kỷ niệm đẹp nhất của người sĩ quan xuất thân từ trường Võ Bị. Chiến tranh đang hồi khốc liệt diễn ra hàng ngày hàng giờ trên khắp miền đất nước, nên khóa 19, 20, 21, chúng tôi chỉ thụ huấn vỏn vẹn 2 năm và khóa 20 đã tốt nghiệp vào ngày 20 tháng 11 năm 1965. Những tin tức dồn dập về chiến trường đã hâm nóng bầu nhiệt quyết của tuổi trẻ chúng tôi, niên trưởng Võ Thành Kháng - thủ khoa K19, Nguyễn Hùng về Thủy Quân Lục Chiến đã tử trận tại Bình Giả, Lê văn Quế - sinh viên sĩ quan cán bộ đại đội F, thần tượng của anh em chúng tôi về binh chủng Biêt Động Quân đã nằm xuống chỉ vỏn vẹn sau đó có mấy ngày. Còn, còn rất nhiều niên trưởng khác cũng đã hy sinh. Biết là nguy hiểm và khổ cực như vậy nhưng anh em chúng tôi ai cũng muốn sống hùng sống mạnh, ai cũng muốn tình nguyện về những binh chủng oai hùng. Hùynh văn Dinh, người bạn cùng phòng thân thiết nhất của tôi đã phải khóc khi anh không được nhận vào binh chủng Nhảy dù; anh đã mất rất sớm khi về phục vụ sư đòan 18 BB. Riêng cá nhân tôi nhờ lớn con nên dễ dàng được nhận về binh chủng TQLC cùng với 24 người khác, BĐQ nhận 50, Nhảy Dù 40 không còn một chỗ trống, còn lại đa số về BB của các SĐ tác chiến. Hôm đến dự lễ mãn khóa, mẹ chỉ biết kêu trời khi nhận được tin nầy, còn các chị tôi thì khóai chí lắm. Như một chú nai tơ ngơ ngác trước ngưỡng cửa đời, chẳng biết gì về chiến tranh và cũng chưa bao giờ chứng kiến được những đau khổ mất mát của người khác. Ai đó có nằm xuống, có hy sinh, có bị tàn phế cũng chẳng sao, việc đó chẳng liên hệ gì đến tôi, tôi vẫn theo đuổi cái hào hùng mà tôi học được qua các sách báo, phim ảnh. Phải thú thật là tôi quá mê bộ đồ trận rằn ri và chiếc mũ béré màu xanh thẳm đội nghiêng đầu. Tôi chỉ mang máng nhớ lại lời chỉ dạy của cha về những tội ác tài trời ách nước của đảng Cộng sản Việt Nam từ khi họ cướp công của những người kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có sự đóng góp bằng cái chết của chú Út tôi. Ra trường 1965 khi vừa tròn 21 tuổi, với chức vụ thiếu uý trung đội trưởng, tôi chỉ biết tuân lệnh thượng cấp khi xông pha ngòai trận mạc, tôi chỉ biết xung phong không bao giờ lùi bước và tôi đã làm tiêu tan gần hết binh sĩ của mình trong trận thử lửa đầu tiên. Cuộc chiến vẫn tiếp diễn và những người lính vẫn tiếp tục nằm xuống hàng ngày hàng giờ. Là đơn vị tổng trừ bị QLVNCH, chúng tôi đã có mặt khắp nơi theo nhu cầu đòi hỏi, đến khi chiến trường sôi động và chúng tôi chỉ rời khi mặt trận bình yên. Sự sống còn của chúng tôi như là một phép mầu nhiệm quý hiếm. Bao nhiêu năm chinh chiến là bấy nhiêu năm mẹ tôi mất ăn mất ngủ, luôn khấn vái nguyện cầu, mẹ đã ăn chay trường cạo đầu xuống tóc đi chùa lễ Phật để mong sao cho tôi được an lành. Bao lần xông pha nơi tuyến đầu lửa đạn cùng biết bao lần thóat chết từ nanh vuốt tử thần, 2 lần bị thương và 2 lần mất tích đã làm mẹ suy sụp tinh thần. Cuộc chiến tàn, tôi lại lâm cảnh tù đày, mẹ nài nỉ cha làm giấy gia đình liệt sĩ của chú Út để bảo lãnh tôi về, nhưng cha một mực cương quyết chối từ mặc dầu cũng rất nhớ thương tôi. Mẹ giận cha trong suốt những năm tháng cuối đời. Mẹ ngã bệnh khi hay tin tôi bị giam kỷ luật nhiều tháng trong hầm Conex lộ thiên giữa trời không cho gia đình thăm viếng, và cuối cùng mẹ đã kiệt sức trong sự mong mỏi ở tôi một ngày về. Tôi được tin mẹ mất vào năm 1983 lúc mẹ vừa tròn 67 tuổi. Cuộc chiến nào rồi cũng qua đi, đời người rồi cũng sẽ chấm dứt, nhưng hình ảnh những bà Mẹ Việt Nam sẽ còn mãi mãi và bất tử với thời gian. Hỡi những ai may mắn còn mẹ, hãy cố giữ gìn và trang trọng như một bảo vật quý hiếm. Chúng ta có thể có tất cả nhưng làm sao ta tìm lại được tình mẫu tử thiêng liêng! Nước mắt bao giờ cũng chảy xuống như những dòng sông muôn đời đổ về biển cả, mẹ là ánh trăng sao sáng rọi chỉ đường dẫn dắt đàn con dại qua những đám mây đen tối. Tình mẹ cho con như biển hồ lai láng. Xin cám ơn cha, xin biết ơn mẹ đã cùng sát cánh và dìu dắt con qua những ngày tháng chập chững vào đời. Không nhờ những hy sinh cao cả của mẹ, của cha, chắc rằng con sẽ không thể khôn lớn thành người: Thương con thao thức bao đêm trường Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao Thương con khuya sớm bao tháng ngày Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm Tiếng ru êm đềm Mẹ hiền năm tháng triền miên (Y Vân) Mũ xanh Phạm văn Tiền |
|